Đừng nên coi thường bệnh bướu cổ

Bệnh bướu cổ (bướu giáp), là căn bệnh phổ biến trên thế giới hiện nay. Bệnh được chia làm hai loại bướu giáp lớn và bướu giáp nhỏ. Nếu bị bướu giáp lớn bệnh nhân sẽ cảm thấy khó thở, ho, khàn tiếng và khó nuốt. Điều này ảnh hưởng rất lới đến cuộc sống của người bệnh.

Hiện nay trên thế giới nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh bướu cổ là thiếu iốt trong chế độ ăn uống hoặc do thay đổi hormone tuyến giáp hay các nhân phát triển ở các tuyến chính. Điều trị tùy thuộc vào kích thước của các bệnh bướu cổ, các triệu chứng và nguyên nhân cơ bản. Bướu giáp nhỏ không đáng kể và không gây ra vấn đề cho sức khỏe thường không cần điều trị.

Các triệu chứng của bệnh bướu cổ

Khi triệu chứng: Người bệnh có thể thấy sưng ở dưới cổ hay thấy cảm giác chặt trong cổ họng.

Vậy nguyên nhân nào dẫn đến bệnh bướu cổ

Bệnh bướu cổ

Bệnh bướu cổ

Bướu cổ không có nghĩa là tuyến giáp không hoạt động bình thường. Ngay cả khi nó được mở rộng, tuyến giáp có thể sản xuất số lượng bình thường của kích thích tố.

Tuyến giáp phóng to có thể do một số yếu tố gây ra. Trong số đó nguyên nhân phổ biến nhất là:

Trong chế độ dinh dưỡng thiếu i-ốt:  I-ốt là điều cần thiết cho việc sản xuất hormone tuyến giáp, được tìm thấy chủ yếu trong nước biển và trong đất ở các khu vực ven biển. Trong thế giới đang phát triển, những người sống nội địa hoặc ở độ cao thường thiếu iốt và có thể phát triển bướu cổ, khi tuyến giáp to ra trong một nỗ lực để có được nhiều iốt. Việc thiếu hụt iốt ban đầu có thể được thực hiện, thậm chí tệ hơn bởi một chế độ ăn uống cao trong thực phẩm ức chế hoóc môn, chẳng hạn như cải bắp, bông cải xanh và súp lơ. Mặc dù một chế độ ăn uống thiếu iốt là nguyên nhân chính của bệnh bướu cổ ở nhiều nơi trên thế giới.

Bệnh Graves: Khi tuyến giáp tạo ra quá nhiều hormone tuyến giáp (cường giáp) có thể đó là nguyên nhân dẫn đến bướu cổ. Trong bệnh Graves, các kháng thể được sản xuất bởi hệ thống miễn dịch, thường giúp bảo vệ chống lại virus, vi khuẩn, nhầm lẫn tấn công tuyến giáp, nó gây ra sản xuất thyroxine dư thừa. Kích thích vượt quá. Điều này làm cho tuyến giáp sưng lên.

Bướu cổ Multinodular: Trong điều kiện này, một số chất rắn hoặc chất lỏng chứa đầy u phát triển ở cả hai phía của tuyến giáp, dẫn đến mở rộng tổng thể của tuyến này.

Trường hợp bệnh Hashimoto: Bướu cổ cũng có thể là kết quả của suy giáp nghĩa là tuyến giáp kém. Cũng giống như bệnh Graves, Hashimoto là một rối loạn tự miễn. Nhưng thay vì làm tuyến giáp sản xuất quá nhiều hormone, thiệt hại tuyến giáp Hashimoto để nó sản xuất ra quá ít. Cảm nhận một mức độ hormone thấp, tuyến yên sản xuất ra nhiều TSH để kích thích tuyến giáp, sau đó làm cho tuyến giáp bị phóng to.

Trong trường hợp bướu độc tuyến giáp, một nhân giáp đơn phát triển trong một phần của tuyến giáp. Hầu hết các nốt không phải ung thư (lành tính) và không dẫn đến ung thư.

Ung thư tuyến giáp ít phổ biến hơn so với nốt lành tính tuyến giáp. Ung thư tuyến giáp thường xuất hiện ở một bên của tuyến giáp.

Mang thai: Khi mang thai, hormone sản xuất trong khi mang thai – chorionic gonadotropin (HCG), có thể làm tuyến giáp phóng to một chút.

Viêm:  Viêm tuyến giáp là một tình trạng viêm có thể gây đau và sưng ở tuyến giáp.

Yếu tố nguy cơ bệnh bướu giáp

Bướu giáp có thể ảnh hưởng đến bất cứ ai, mọi lứa tuổi. Có thể xuất hiện khi sinh hoặc bất cứ lúc nào trong suốt cuộc đời, mặc dù phổ biến hơn sau tuổi 50. Một số yếu tố nguy cơ phổ biến cho các bệnh bướu cổ bao gồm:

Chế độ ăn uống thiếu iốt: Những người sống ở những nơi thiếu iốt và những người không được bổ sung iốt thường xuyên có nguy cơ cao của bệnh bướu cổ.

Giới tính: Bởi vì phụ nữ dễ bị rối loạn tuyến giáp hơn so với nam giới, họ cũng có nhiều khả năng để phát triển bướu giáp.

Tuổi 50 tuổi trở lên sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh.

Các biến chứng của bệnh bướu giáp

Nếu bướu giáp nhỏ sẽ không phải là mối quan tâm lớn của người bênh nếu nó không gây ra vấn đề về thể chất hoặc thẩm mỹ. Nhưng bướu giáp lớn có thể làm cho khó thở hoặc khó nuốt và có thể gây ho và khàn tiếng. Bướu giáp là kết quả của các điều kiện khác, chẳng hạn như suy giáp hoặc cường giáp, có thể được liên kết với một số triệu chứng từ mệt mỏi và tăng cân đến giảm cân ngoài ý muốn, khó chịu và khó ngủ.

Chẩn đoán bệnh bướu cổ cũng có thể bao gồm:

Việc tiến hành xét nghiệm nội tiết tố hoặc xét nghiệm máu, có thể biết được lượng hormone được sản xuất bởi các tuyến của tuyến giáp và tuyến yên. Nếu tuyến giáp mà kém, mức độ hormone tuyến giáp sẽ thấp. Đồng thời, mức độ hormone tuyến giáp kích thích (TSH) sẽ được nâng lên bởi vì tuyến yên, cố gắng kích thích tuyến giáp để sản xuất nhiều hormone tuyến giáp. Bướu cổ kết hợp với một tuyến giáp hoạt động quá mức, thường liên quan đến một mức độ cao của hormone tuyến giáp trong máu và mức TSH thấp hơn bình thường.

Xét nghiệm kháng thể để tìm ra những nguyên nhân của bệnh bướu cổ liên quan đến việc sản xuất các kháng thể bất thường. Xét nghiệm máu có thể xác nhận sự hiện diện của các kháng thể này. Siêu âm các hình ảnh cho thấy kích thước của tuyến giáp và cho dù tuyến có chứa các nhân thì bác sĩ có thể cảm nhận thấy được.

Phương pháp và thuốc điều trị bệnh bướu cổ

Để điều trị bệnh bướu cổ còn tùy thuộc vào kích thước, dấu hiệu và triệu chứng, nguyên nhân cơ bản. Bác sĩ có thể khuyên nên:

Quan sát bệnh, nếu bướu cổ nhỏ và không gây ra vấn đề cho sức khỏe, và tuyến giáp hoạt động bình thường, bác sĩ có thể đề nghị chờ và xem cách tiếp cận.

Phẫu thuật: Loại bỏ tất cả hay một phần của tuyến giáp (toàn bộ hoặc một phần tuyến giáp) là một lựa chọn nếu có một bướu cổ lớn, đó là khó chịu hoặc gây khó thở hoặc khó nuốt, hoặc trong một số trường hợp, nếu có nốt gây bướu cổ cường giáp. Phẫu thuật cũng là một trong các phương pháp điều trị ung thư tuyến giáp. Có thể cần dùng levothyroxine sau khi phẫu thuật, tùy thuộc vào lượng của tuyến giáp loại bỏ.

Thuốc điều trị: Nếu có suy giáp, thay thế hormone tuyến giáp với levothyroxine (Levothroid, Synthroid) sẽ giải quyết các triệu chứng của suy giáp cũng như làm chậm sự phát hành của hormone tuyến giáp kích thích từ tuyến yên, thường làm giảm kích thước của bướu cổ này. Đối với viêm tuyến giáp, bác sĩ có thể khuyên dùng aspirin hoặc thuốc corticosteroid để điều trị viêm. Đối với liên kết với cường giáp, có thể cần thuốc để bình thường hóa nồng độ hormone.

I-ốt phóng xạ được sử dụng để điều trị một tuyến hoạt động quá mức của tuyến giáp. Các iốt phóng xạ được thực hiện bằng uống và đến tuyến giáp thông qua máu, phá hủy các tế bào tuyến giáp. Các kết quả điều trị trong giảm kích thước của bệnh bướu cổ, nhưng cuối cùng cũng có thể gây ra một tuyến giáp kém. Hormone thay thế với levothyroxine hormone tuyến giáp tổng hợp sau đó trở nên cần thiết.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục bệnh bướu cổ

Nếu chế độ ăn uống là nguyên nhân dẫn đến bệnh bướu cổ, thì những đề xuất dưới đây có thể giúp chăm sóc bệnh nhân sau mổ tuyến giáp, cũng như phòng tránh bệnh tuyến giáp:

Cần cung cấp đầy đủ lượng i-ốt cho cơ thể, nguồn cung cấp có thể hấp thụ từ việc sử dụng muối I-ốt, ăn hải sản hoặc rong biển, sushi là một nguồn rong biển tốt, cần ăn khoảng hai lần một tuần. Đặc biệt tôm và cua cung cấp lượng iốt rất cao. Nếu sống gần bờ biển, trái cây và rau cải trồng tại địa phương có khả năng chứa một số i-ốt, cũng như sữa bò và sữa chua. Mọi người cần khoảng 150 microgram iốt/ngày, nhưng số đầy đủ là đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ mang thai, cho con bú, cho trẻ sơ sinh và trẻ em.

 

Theo Người tiêu dùng

 

Linh Giang
1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars
Loading...
Cách chế biến nấm lim xanh và bảo quản

Tin Liên quan

Nấm lim xanh chữa bệnh gan nhiễm mỡ