Cách chăm sóc làm giảm nhẹ triệu chứng ung thư

Chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng ung thư là sự kết hợp của nhiều biện pháp khác nhau để cải thiện chất lượng cuộc sống cũng như giảm bớt sự đau đớn trong quá trình điều trị bệnh cho bệnh nhân.

Nhiều người cho rằng, chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng ung thư chỉ được đặt ra với những bệnh không thể chữa khỏi bệnh. Thật ra, lĩnh vực điều trị này rất rộng có thể áp dụng cho các bệnh nhân mắc bệnh kinh niên và nghiêm trọng (suy tim, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, ung thư, Alzheimer, suy thận,  Parkinson…) thuộc mọi giai đoạn bệnh, mọi lứa tuổi và có thể song song tiến hành với việc điều trị bệnh.

Chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng ung thư

Chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng ung thư

Chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng ung thư được tiến hành từ lúc bệnh được chẩn đoán đến khi bệnh nhân qua đời. Bản thân nó cũng là một mô thức điều trị được coi trọng và được phối hợp với các mô thức khác như phẫu trị, xạ trị, hóa trị… Trong suốt quá trình điều trị của bệnh nhân, mục đích là giúp bệnh nhân có được chất lượng sống tốt nhất cho đến thời khắc cuối đời. Ngoài ra, chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng còn có một dạng đặc biệt dành cho những người sắp qua đời, không thể sống thêm quá 6 tháng.

Phương pháp chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng có thể tiến hành tại bệnh viện hoặc tại nhà bệnh nhân, bệnh xá an dưỡng, nhà tế bần… được tiến hành bởi một đội ngũ chuyên trách, được đào tạo cẩn thận bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực, nhân viên trợ giúp xã hội, tình nguyện viên và người nhà bệnh nhân. Những người này cùng làm việc với các bác sĩ khác của bệnh nhân để có thêm nữa một sự hỗ trợ. Hầu hết công việc tập trung vào giảm nhẹ các triệu chứng như khó thở, mệt, buồn nôn, táo bón, ăn không ngon miệng, khó ngủ, đau, trầm cảm… Giúp bệnh nhân tăng khả năng chịu đựng các điều trị y tế, giúp hỗ trợ trong các sinh hoạt hàng ngày và nâng cao hiểu biết để có thể lựa chọn tốt hơn các biện pháp điều trị.

Nguyên tắc chung trong chăm sóc bệnh nhân ung thư

Có thể chấp nhận nguyên lý tác dụng đôi trong lĩnh vực y tế, đây là tiêu chuẩn đạo lý (không riêng gì cho lĩnh vực y tế) trong việc đánh giá một việc làm có thể chấp nhận được mà không thể nào làm khác hơn (ví dụ dùng morphine liều cao để làm giảm cơn đau khủng khiếp cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối) tuy có thể đưa đến hậu quả mà thông thường chúng ta phải tránh (ví dụ tình trạng tụt huyết áp, ức chế hô hấp, gà gật, thậm chí tử vong). Vấn đề cần cân nhắc là liệu hiệu quả điều trị có nhiều hơn tác dụng phụ hay không và khi sử dụng phương pháp này cần theo dõi cẩn thận tình trạng bệnh nhân để giảm đến mức tối thiểu các tổn thất.

Trong quá trình chăm sóc bệnh nhân ung thư cần được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng mức thông qua việc hỏi tiền sử bệnh, thăm khám cẩn thận, đánh giá tình huống và ra quyết định kịp thời.

Kiểm soát cơn đau

Đối với bệnh nhân ung thư thì đau là triệu chứng phổ biến nhất. Đau là yếu tố làm cho người bệnh khổ sở và ảnh hưởng nhiều nhất đến chất lượng cuộc sống. Vì vậy, cơn đau là một vấn đề lớn cần được phát hiện, đánh giá đúng mức và điều trị phù hợp.

Đánh giá cơn đau, cần xác định các yếu tố sau

Đau do tổn thương mô thần kinh: Người bệnh có cảm giác đau như điện giật, tê bì, nóng rát.

Đau do thụ cảm thể gồm: Đau bản thể thường được mô tả là đau của cơ – đau nội tạng (từ các nội tạng và các mạch máu).và xương (tiếp nhận từ da, mô dưới sâu, các cơ quan giác quan, tất cả các cơ xương)

Mức độ cơn đau: Dựa theo thang đánh giá mức độ đau từ 0 – 10 (0: không đau; 1 – 3: đau nhẹ; 4 – 6: đau vừa; 7 – 10: đau nặng) và sự tự đánh giá của bệnh nhân.

Nguyên nhân cơn đau

Do yếu tố tâm lý, bệnh lý hoặc hội chứng khác đi kèm, tình cảm, hoặc đơn thuần chỉ do bệnh ung thư, tình trạng di căn… để có hướng điều trị phù hợp.

Điều trị cơn đau

Chủ yếu dùng thuốc và phối hợp với các biện pháp khác.

Thuốc giảm cơn đau: ưu tiên dùng dạng uống. Đường qua da hoặc đường tiêm chích hoặc chỉ áp dụng cho những bệnh nhân không thể uống thuốc được. Cách sử thuốc giảm đau trong ung thư (liều lượng thuốc, loại thuốc) tùy theo mức độ đau.

Thang điểm điều trị đau mạn tính cho bệnh nhân ung thư của WHO

Cơn đau nhẹ: thuốc giảm đau phụ trợ khác (Amitriptylin, Gabapentin, Carbamazepine) và thuốc giảm đau thông thường không có opioid (Aspirin, Paracetamol)

Cơn đau vừa: thuốc giảm đau phụ trợ kết hợp với các loại thuốc giảm đau không có và có opioid (Codein).

Cơn đau nặng: thuốc giảm đau opioid mạnh (Morphine, Oxycodone) và không opioid, phối hợp các loại thuốc giảm đau phụ trợ khác.

Nếu phương pháp này không đủ giảm đau, bệnh nhân có thể sử dụng các dạng thuốc phiện phù hợp khác.Tuy phác đồ này chỉ  đề cập đến việc giảm đau trong ung thư, nhưng nó vẫn có thể được sử dụng cho các trường hợp đau mạn tính khác không do ung thư, ví dụ trong HIV-AIDS.

Nhân viên y tế cần nắm vững liều lượng, tác dụng phụ của các thuốc giảm đau, cách sử dụng, đặc biệt là Morphine, để đạt hiệu quả điều trị cao cho bệnh nhân và hạn chế tác dụng phụ của thuốc ở mức thấp nhất.

Các loại thuốc phụ trợ khác có thể dùng kèm làm tăng hiệu lực thuốc giảm đau: thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc giãn cơ, thuốc chống co giật, Corticosteroid, thuốc phong bế dẫn truyền thần kinh, Bisphosphonates…

Điều trị các triệu chứng khác của bệnh: tiêu chảy, táo bón, khó thở, nôn ói,  lở miệng, sốt, ho, yếu mệt…Cần xác định nguyên nhân chính của các triệu chứng này để có biện pháp điều trị thích hợp.

Hỗ trợ về mặt tâm lý – tinh thần và xã hội cho bệnh nhân. Các bệnh nhân thuộc diện chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng rất bi quan và đau khổ nên sẽ dễ phát sinh nhiều vấn đề tinh thần, tâm lý và xã hội. Vì vậy, bác sĩ cần có hướng tiếp cận đúng để giải quyết thỏa đáng những vấn đề này cho bệnh nhân cũng như cho gia đình họ.

Điều trị các biến chứng xảy cho bệnh nhân trong quá trình phẫu trị, hóa trị, xạ trị.

Nhân viên y tế cần nắm vững những biến chứng này cũng như cách điều trị đặc thù để điều trị tốt cho bệnh nhân.

 

Theo Sức khỏe & đời sống

Văn Hùng.btv
1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars
Loading...
Nấm lim xanh Tiên Phước

Tin Liên quan

Nấm lim xanh phục hồi tai biến mạch máu não, đột quỵ